Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

VỊ QUÊ

#truyện
-----
Trời hôm nay nóng oi ả. Cái nóng cuối tháng Tư như hun khô da người dù bạn có ngồi trong bóng râm đi nữa. Cũng gần chục năm tui mới về quê dịp lễ cuối tháng Tư này. Phần vì con cái còn nhỏ ngại đi xa, phần vì ngày lễ nên vé xe săn tìm cũng khó. Mà hơn hết là quê nhà đâu còn ai thân thích đâu. Ba má thì đã sớm đi đoàn tụ ông bà – mấy chị em dắt díu nhau lên Sài gòn lập nghiệp, giờ dưới quê chỉ còn một hai người bà con xa mà thôi. Năm nay, bà chị họ gả con gái cho Việt kiều nên kêu dòng họ về tụ họp. Sẵn dịp, tôi cũng về thăm lại nơi chốn đã từng in dấu chân tôi suốt thời học sinh.
Cảm giác đầu là... quê ai chứ không phải quê mình. Cầu tre biến mất, đường đất được đổ đá dăm – hết còn cảnh bùn nhão nhoẹt khi mưa, và cũng đỡ chùng chân khi qua cầu. Nhưng... không còn cái cảm giác thích thú khi đứng trên cầu tre, đong đưa, lắc lư trong gió và lanh chanh chào hỏi những cô Hai, chị Tám đang chèo ghe bên dưới. Nhà cửa thì đa phần xây gạch lợp tole, ít thấy những căn nhà vách lá, mái lá dừa nước, vừa thơm thơm, vừa mát mẻ và vừa âm u kèm theo chút... sợ sâu.
Hôm về tới là vào giác đêm, đường xá nhà cửa đèn điện sáng choang – không còn cảnh tù mù đèn dầu như hồi nào, tiếng nhạc ở cái loa kẹo kéo của nhà nào đó phát oang oang, lấp hết những tiếng rả rích của dế, của ếch nhái – chợt nghĩ “Phố đêm đèn mờ giăng giăng” cũng không sai bao nhiêu.
Chỉ có sáng hôm sau, thức dậy ra chỗ hợp chợ đầu vàm mới thấy chút ít quen thuộc. Tiếng chào mời “quẹo lựa”, “tép tươi rói”, “bầu non èo”... vẫn vang vọng như những năm nào. Người đi chợ tấp nập, khác là hồi xưa đi xuồng, giờ thì đi honda, vậy thôi. Nhắm hướng một chút, rồi cũng tấp vô một quán hủ tíu bên đường, đầu chợ – quán hủ tíu cô Tư. Hồi nhỏ... hủ tíu là thứ xa xỉ lắm đối với đám con nít quê, sáng sáng chỉ ăn cơm nguội, cơm chiên, khoai lang – sang lắm được nắm xôi – còn hủ tíu... chỉ thỉnh thoảng được nếm khi đi mua cho bà chị những lúc trở trời cảm cúm. Vì vậy trong trí nhớ của tui, hủ tíu cô Tư nấu ngọt lắm, ngon lắm. Thêm vị chua chua của chanh, chút cay cay của ớt... mùi hành tỏi phi và mùi thịt băm... ấy là cả một thiên đường của một đứa trẻ. Khi rời quê lên SG học và đi làm, tui cũng đã từng ăn nhiều tiệm, nhiều nơi – kể cả về Mỹ Tho ăn. Nhưng... không đâu ngon bằng vị hủ tiếu cô Tư. Kỳ này về quê, cũng ráng nhớ chỗ để tìm ăn lại.
Quán cô Tư giờ cũng vẫn vậy, vẫn những cái ghế đẩu cũ kỹ nhưng chắc chắn, kê sát những cái bàn đóng từ những cây tạp, lâu ngày nên mặt bàn xù xì lổm chổm. Mặt bàn dậy lên mùi của gỗ mục hòa với mùi nước mắm, mùi chanh, mùi ớt, mùi hành tỏi... thành cái mùi... hủ tíu đặc trưng của những quán quê cũ kỹ. Gọi tô hủ tíu, cô Tư cập rập trụng rồi đem ra.
- Cô Tư khỏe cô Tư?
- ???
- Con, Út Thanh con ông Sáu Sáng nè cô.
- Mèn đét ơi – thằng Út mày về hồi nào? Mấy năm đi biệt giờ... lớn hết rồi hén!
- Dạ con về ăn đám cưới con Ngân đó cô. Quán bán được hông cô Tư?
- Thì cũng bán lai rai cho khách quen lối xóm thôi con. Giờ con nít nó mê ăn mì gói chứ nó có thèm ăn hủ tíu quê này đâu.
Tôi húp muỗng nước lèo, ngạc nhiên vì thấy vị đường quá xá ngọt trong đó. Chợt nhớ ra, mình ở quê mà – xứ này nấu nướng cứ ngọt lừ lừ – nên... giọng nói cứ ngọt ngào, tình cảm chứ ngọt lịm như vậy thôi. Tôi nặn thêm miếng chanh, dầm một trái ớt hiểm chợt nghe tiếng oang oang:
- Ê ớt bán sao mà rẻ vậy bây.
Tôi quay lại nhìn ra. Một ông lão tóc bạc trắng, gầy gò đang khật khà hỏi cô bán rau. Nhìn dáng quen quen, một hồi mới nhận ra ông Chín. Hồi còn ở quê, ông Chín chuyên trồng ớt – tính ông nóng như lửa tụi tui hay nói trộm là do ông ăn ớt nhiều mà ra. Vừa cười trong bụng ông già còn hay giỡn, tôi nếm lại... chà, cay quá...
Đưa muỗng vớt bớt mất miếng ớt lỡ dầm, chợt nghe sau lưng tiếng nạt:
- Ớt rẻ quá nên dầm rồi dục bỏ hả mậy?
Tôi quay sang, ông Chín đã đến kế bên hồi lúc nào không biết.
- Dạ, cay quá nên con vớt bỏ bớt ông Chín ơi.
- Vậy sao không dầm ít lúc đầu đi, làm gì mà hoang phí vậy! Mày là thằng nào?
- Dạ, con là Út Thanh con ông Sáu Sáng nè ông Chín. Con mới về.
- À... mày hồi đó học giỏi, thi đậu Đại học gì gì...
- Dạ, con học Đại học Bách khoa ngành Hóa học và Thực phẩm đó ông.
- Mày học thực phẩm hả – mắt ông Chín như sáng lên - mày thấy... ớt có thể làm gì sau thu hoạch vậy con?
- Thì phơi khô, cũng có nơi làm tương ớt. Chỗ con làm cũng làm tương ớt đó ông.
- Vậy một năm công ty xài bao nhiêu tấn ớt vậy con?
- Chèn ơi – giờ nhập nguyên liệu ở nước ngoài về pha trộn chứ thời gian đâu mà gia công từ ớt tươi nữa ông.
- Nhập nhập nhập... riết cái gì cũng nhập, vậy mà có thằng nào chịu nhận là làm từ hóa chất đâu. Đồ xảo trá!
Ông Chín đột ngột hét lên, giận dữ xô bàn đứng bật dậy rồi lắc lư ra khỏi quán. Tôi hết hồn nhìn theo mà không hiểu làm ông giận chỗ nào.
- Ông Chín trồng ớt, mấy năm nay thương lái ép giá quá trời. Càng làm càng lỗ. Năm nay ông bỏ luôn mấy công chín rục ngoài đồng. Thương lái mua không đủ cho công hái nên ổng bỏ xó luôn. - cô Tư như hiểu ý tôi nên nhỏ nhẹ giải thích.
- Ủa, còn nhà máy tương ớt của anh Hai Tâm con ông Chín đâu cô? Ảnh không mua ớt của ông Chín hả?
- Nhà máy dẹp tám mươi đời vương rồi! Từ thời vụ tương ớt bị đồn có màu Su đăng su điếc gì đó, bên Vệ sinh thực phẩm họ kiểm tra, họ nói nhà máy không đạt chuẩn, có vậy mà rồi đồn thành có hóa chất gây ung thư. Khách hàng trả hàng lại nườm nượp. Nhà máy đóng cửa, bán đổ bán tháo, ông Chín cũng bán luôn căn nhà để đền tiền cho ngân hàng và trả lại tiền cho người ta. Thằng Tâm bỏ xứ đi biệt từ đó. Ổng giờ còn mấy công ớt mà... Bây giờ ổng lúc mê, lúc tỉnh vậy đó!
Tôi thảng thốt nhìn theo. Vụ “bột màu Sudan” đã giúp cho công ty của tôi năm đó thắng lớn – tiến tới chiếm lĩnh thị trường tương ớt trong nước. Cũng có nhiều lần thấy tin được mùa rớt giá, ớt lúc lên lúc xuống, tôi xem cho có không nghĩ gì, vì nguyên liệu toàn nhập nước ngoài nên giá ớt trong nước lên xuống cũng đâu ảnh hưởng gì đến công ty. Tôi có ngờ đâu bà con dưới quê lại bị ảnh hưởng đến như vầy!
Ông Chín lật bật bước trong nắng, dáng gầy gầy lừ đừ đi ra khỏi chợ, khuất dần. Tiếng ông dấm dẳng vọng lại như nói không chỉ cho riêng tôi “Tụi mày ăn cơm xứ này để lớn – đi ăn học cho nhiều, thành ông nọ bà kia mà giờ đã làm gì được cho quê này, suy nghĩ gì giúp cho dân vùng này khỏi khổ. Hay là mày chỉ góp phần giết nông dân ở đây vậy con...
Trời hôm nay nóng oi ả. Cái nóng cuối tháng Tư hun khô da người. Tôi sững người ngồi đó, hứng những cơn gió khô pha chút lạnh quất rát cả mặt – chắc trời sắp mưa. Lùa vội chút hủ tíu còn lại trong tô, lí nhí gọi cô Tư tính tiền, miệng chợt nhai trúng miếng ớt hiểm còn sót lại. Vị ớt nồng nàn sộc lên mũi - cay xé lưỡi, cay ứa nước mắt, cay như lời ông Chín vẫn đang vọng trong đầu.
Thì ra... ớt dưới quê này... vị của nó... cay làm sao...
===== Tháng 04/2018-2019

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2009

Nhớ Tết quê




Chiều thứ bảy mình nhận được tin nhắn của một người bạn, rủ Tết này về LX ăn Tết.
Thực ra mình cũng 7 năm không ăn Tết ở quê rồi, từ khi ông già mình qua đời, qua giỗ đầu thì gia đình mình chỉ ăn Tết ở Sài Gòn. Nhớ quê lắm, nhớ không khí Tết ở quê lắm...

Hồi còn học phổ thông, những ngày cận Tết cứ chăm chăm chờ chợ hoa mở. Hồi đó chợ hoa Tết họp dọc bên công trường Trưng Nữ Vương, bày bán đủ loại: từ phổ thông như vạn thọ, mồng gà... đến các loại kiêu sa như hoa hồng, thược dược... Mỗi Tết là một lần tò tò đi theo các bác hỏi "hoa gì, quả gì...", do vậy biết được thêm Điệp Lào, cây Thanh Mai và thật thích thú khi lần đầu gặp quả Phật Thủ...

Hồi Má còn sống thì Tết mình không có gì phải lo, chỉ chờ mặc áo mới đi chơi Tết. Cũng chỉ là cái áo sơ mi trắng vừa may, mặc ăn Tết xong thì làm áo mặc đi học luôn (thời bao cấp mua theo tem phiếu mà) mà cứ nôn nao chờ. Tết sau khi cúng kiếng buổi trưa giao thừa là chăm chăm chờ xem chương trình TV Tết (chỉ là chương trình tăng cường 14h00 đến 16h00 thôi), chờ cùng cười với Luis de Funes hay Charlo... Có năm bị cúp điện cả ngày giao thừa, cả nhà nguồi quây quần nghe cải lương qua cái radio nhỏ xíu, căng mắt chờ đón giao thứa trong ánh đèn dầu leo lét...

Má mất đi thì ngày Tết mấy chị em mình xúm xít lo nấu nướng. Trước giao thừa là thức đổ bánh bông lan và bánh kẹp, ngày giao thừa là xúm xít làm các món mặn, không dám làm bánh tét vì mấy đứa con "quá" khéo tay. Ba mình thời còn sống rất kỹ tính trong việc cúng ông bà ngày cuối năm, làm thì thì làm thì ít nhất cũng phải đủ ba món một món xáo, một món canh và một món mặn. Nhớ hồi năm 1986, Tết đến khi mới vừa dọn xong nhà qua chổ ở mới (do bị giải tỏa), bên công ty của Ba và của chị Sáu chỉ chia được một số rau củ và mấy ký thịt heo, hai chị em lui cui nấu: thịt kho nước dừa thì ổn rồi, còn lại món xáo và món canh, món nào cũng có cà rốt, bông cải, bắp cải, nấm mèo... Dọn mâm cơn lên cúng, Ba tôi chỉ gượng cười thốt "Ông bà về ăn đố biết món nào món canh, món nào là món xào..."

Sau đó lên Đại học rồi đi làm, nhà cũng dần dần khá lên, Tết về ông già cứ chờ ăn những món mình nấu: cá lóc rút xương chiên xốt cà, gà tiềm bát bửu,... không phải là mình nấu ngon, mà đó là món mình dốc lòng nấu cúng ông bà... Do vậy thành quen nấu nướng...

Giờ đây ngồi thèm không khí Tết quê, nhớ lại thời kỳ khốn khó, đến Tết chờ ăn bánh phồng, bánh tét, bánh in ở bên vườn gởi qua biếu, thèm được lấy chiếc xe đạp củ đạp vòng vòng trong chiều 30 Tết, xem nhà người nấu bánh tét, thèm tiếng cải lương "Thái hậu Dương Vân Nga" qua tiếng rè rẹt của cái radio củ kỷ, thèm nghe tiếng đì đùng và mùi khói pháo hòa lẫn với hương nhang trầm trong bóng tối lung linh ánh đèn dầu...

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2008

Ăn hàng ở Long Xuyên




Tôi là dân Long Xuyên, vợ tôi cũng là dân Long Xuyên. Hai vợ chồng cũng có ít có sớ thích chung nhưng về ăn vặt thì hai vợ chồng giống nhau như đúc.
Mấy ngày nay trời lành lạnh, làm cho mau đói và thèm ăn vặt kinh khủng. Đêm đêm hai vợ chồng cứ ngồi thi nhau kể các món ăn vặt của Long Xuyên, các món ấy không phải là đặc sắc hay cao sang gì nhưng hể nhắc đến là thèm...

Đầu tiên là phải kể đến Cơm tấm để ăn sáng. Thường thường đến Long Xuyên thì sẽ được đãi bằng cơm tấm Cây Điệp hay cơm tấm Hướng Dương, tất nhiên là ngon có tiếng, tuy nhiên tôi muốn giới thiệu thêm 2 địa chỉ nữa: nếu thích hương vị cơm tấm xưa của Long Xuyên thì ăn cơm tấm đêm ở nhà lồng chợ Mỹ Long, gần chợ cá cũ. Còn món đặc biệt là cơm tấm sáng ở ngã ba Hà Hoàng Hổ và Bùi Thị Xuân. Cơm tấm ở đây được bán trong một đĩa rất nhỏ (tôi phải ăn ít nhất 4 đĩa thì mới tạm ổn cho bữa sáng. Đặc biệt hơn nữa là tấm để nấu cơm thật nhỏ, đố tìm ở đâu được hạt tấm nhỏ hơn quê tôi, các con tôi ăn cứ ngạc nhiên mãi, chúng gần như chỉ cần nuốt thôi chứ không cần nhai nữa. Cái đặc biệt của cơm tấm bì Long Xuyên là bì thường được trộn với xá xíu hoặc thịt nướng xắt mỏng và được ăn chung với trứng kho xắt mỏng. Cái ngọt của thịt, béo của lòng đỏ trứng, giòn của lòng trắng trứng, sần sật của bì... cộng với mùi thơm của mỡ hành, cay nồng của ớt... Ực ... không tả được nữa.

Ăn điểm tâm sáng xong thì bắt đầu đi chợ. Trước tiên ra đường Nguyễn Huệ, góc Bình Minh để uống cà phê và ăn xôi sáng. Bà bán xôi ở Bình Minh nổi tiếng cũng mấy chục năm nay, bán xôi nếp than, xôi lá cẩm, xôi lá dứa ăn với dừa nạo, còn loại xôi vò đặc biệt của Bình Minh: nếp nấu trộn đường ngọt làm xôi, còn đập xanh nấu chín, đánh nhuyễn chỉ phết lên trên mặt xôi chứ không trộn lẫn như xôi vò thường thấy. Uống ly cafe đen, ăn 1 gói xôi là ngất ngây cả buổi sáng. Hiện nay xôi Bình Minh nghe nói có bán thêm vào ban đêm, nhưng ban đêm thì ăn xôi chổ khác độc hơn.


Nếu còn chưa no, mời bạn ăn một món đặc sản nổi tiếng của Long Xuyên: Bánh mì Thanh Lan ở hông bên kia của tiệm cafe, trên đường xuống bắc An Hòa cũ. Xe bánh mì này do gia đình của một người bạn học thời trung học của tôi buôn bán gia truyền từ ba bốn chục năm có. Trước kia chỉ chuyên bán bánh mì patê: patê gan, chả lụa, da bao (dưới tôi cũng gọi là patê) được dồn vào bụng của một ổ bánh mì cóc với lượng chả gần bằng lượng bánh mì. Ở Long Xuyên chả lụa và thịt nguội được cắt nan hoa trên khoanh tròn, nên mỗi miếng gần như tam giác, to bắng ngón tay út, xếp ken chặt bên trong ổ bánh mì- khác với cách cắt lát mỏng ở SG - lần đầu lên SG thấy các miếng chả kẹp trong ổ bánh mì cứ sợ hắt hơi bay mất. Ở bánh mì đầy chả ấy được thêm vài cọng dưa chua làm từ củ cải trắng, vài cọng ớt, rắt một lớp muối tiêu... đủ giết chết cãm giác của bạn rồi đó. Nhà tôi khi có bà con từ Long Xuyên lên là nài nỉ mua giúp chục ổ bánh mì và mấy đòn chả lụa Thanh Lan - dù nơi tôi đang ở cũng làm giò lụa nổi tiếng cho SG. Sau này Thnah Lan làm thêm bánh mì gà nhưng tôi không thích bắng bánh mì patê, tuy nhiên gần đây họ nêm chả lụa quá ngọt và để tiêu quá nhiều nên chả lụa giảm phần hấp dẫn và bắt đầu có mùi vị khác, không giống như hồi xưa rồi...
Nếu không thích các món ăn sáng khộ khan trên thì mời vào chợ Đông An để ăn cháo lòng. Khu Đông An xưa là lò mổ heo, vì vậy sáng sớm cháo lòng rất nhiều và đặc biệt ngon. Quê tôi trước đây không thấy ăn cháo lòng với quẩy mà chỉ ăn với bún.Cọng bún trắng trong tô cháo lòng sóng sánh nâu, chanh chua, ớt cay, mước mắm mặn, tiêu thơm... cứ gọi là hết mấy tô như chơi. Tiếc là giờ chợ Đông An đã dỡ, khu lò mổ đã dẹp, thêm nữa bây giờ lại có thêm quẩy, cháo lòng của Long Xuyên không còn nét độc đáo riêng nữa rồi.
Đến xế chiều, phải vòng qua bờ hồ Nguyễn Du ăn bún cá thôi! Trước đây ở nhà của thầy Thìn cạnh trường Khuyến học cũ, đối diện với hồ bơi Long Xuyên mở quán bún cá đầu tiên, rồi thêm một quán, một quán... rồi thành cả dãy đường Nguyện Du đoạn từ Nguyễn Thái Học đến Lý Thường Kiệt bán đầy bún cá. Ăn bún cá ở khu này thì chất lượng na ná nhau (thua tui nấu) , chỉ ăn đỡ ghiền và đỡ đói thôi. Được cái là các quán đều cho chọn lựa ăn với muối ớt hay nước mắm, thành ra ăn cũng đỡ thèm lắm...
Chiều về thì quay trở lại góc Bình Minh để ăn bánh tằm bì. Bánh tằm bì Long Xuyên giờ kém hơn xưa nhưng cũng còn đặc biệt lắm: các lọn bánh tằm như cái lò xo bằng bột hấp chín, được tách ra thành dây dài, thêm dưa leo xắt nhuyễn, rau thơm, một chút bì, mấy viên xíu mại bằng đầu ngón tay cái, chan thêm nước mắm và nước cốt dừa thắng sệt nêm ngòn ngọt... Uầy... xong bữa chiều rồi đó.
Đi lòng vòng khoảng 8h tối thì ghé khu Tân Đô cũ (nay là khu tòa nhà Prudential) để ăn cháo đêm. Có cháo trắng, cháo đậu xanh hay đậu đỏ nước cốt dừa, ăn với cá cơm hay cá thiểu kho khô, dưa mắm hoặc quả trứng vịt muối... thì thật là ấm lòng trong đêm lạnh như giờ này...

Ăn tối xong thì quay về quán xôi ở góc chợ vải cũ, gần các tiệm bán cà phê và trà, tôi không nhớ là Trần Văn Kế hay Trần Văn Thời gì đó để mua về nhà ăn khuya. Đây là món ruột của ông già tôi hồi xưa, chỉ là xôi lá dứa, lá cẩm hoặc nếp than với dừa nạo nhưng đặc biệt là không gói trong bánh phồng như các hàng xôi khác, hàng này lại gói trong bánh kẹp tổ ong có hình 3 quả tim ghép lại. Vào mùa sầu riêng thì xôi được phủ thêm một ít sầu riêng tươi, mùi sầu riêng hòa lẫn với vị béo của dừa, bùi của đậu, ngọt của đường, mằn mặn của muối đậu... Nhắc đến thì nó lại thành "sầu chung" của hai vợ chồng tôi...

Ấy, đi một vòng cả ngày cũng chỉ mới "ăn" có mấy món... Thôi thì kể ra cho đỡ thèm... hay còn thòm thèm hơn ta?...

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2008

Quê nhà

Tôi sinh ra và lớn lên tại tỉnh lỵ của An Giang: Thị xã Long Xuyên. Một đô thị trong ký ức của tôi nó "be bé, xinh xinh", một vùng đất đầy ắp những kỷ niệm. Tôi muốn gởi lại trên entry này một số hoài niệm của một thời thơ ấu, mà tôi sợ rằng tôi sẽ quên đi theo năm tháng vì gần đây tự phác giác ra mình cũng bắt đầu lú lẫn nhiều.

An Giang Quê Tôi
Ca sĩ: Hoàng Oanh

Cầu Hoàng Diệu - Cầu Duy Tân


Góc LX chụp từ Mỹ Bình nhìn qua, cây cầu gần là Duy Tân, phía xa là cầu Hoàng Diệu

Long Xuyên trong ký ức tôi có 2 cây cầu để nhớ: Cầu Hoàng Diệu và cầu Duy Tân. Tôi vẫn còn nhớ câu trêu đùa con gái Long Xuyên là:

"Cầu nào cao bằng cầu Hoàng Diệu
Gái nào điệu bằng gái Long Xuyên"

Hồi còn nhỏ, đạp xe lên dốc cầu Hoàng Diệu là mệt bở hơi tai. Bây giờ đi tứ xứ về nhìn lại thì thấy nó cũng chẳng cao gì mấy mà sao vẫn cứ thấy như mình đang đạp xe lên dốc - con dốc của ký ức.

Tôi thì tôi nhớ cầu Hoàng Diệu nhiều hơn vì thường đi học, đi chơi đều qua con đường này. Kể cả đi vào nhà Nội hay vào thăm mộ những ngày Thanh Minh đều phải đi qua đây.

Cầu Duy Tân thì tôi ít đi hơn vì nó không thuận đường. Vả lại hồi 1978 thì dân vùng Tân Châu, Châu Đốc chạy giặc về sống túm tụm quanh bến đò ngay chân cầu, họ nướng tung-lò-mò trên lề cầu, bày bàn lụa Tân Châu .... nên cây cầu càng chật hẹp và xô bồ xô bộn. Chỉ có sau này khi đi chơi với lũ bạn thì tôi mới hay đi qua cầu này vì nó dẫn về hồ Nguyễn Du.

Cầu Duy Tân với tuổi ấu thơ thì chỉ có mỗi một kỷ niệm là lúc 1975, tôi lội bộ trong đêm một mình từ đường Nguyễn Trãi về đến Nguyễn Tri Phương. Hôm ấy Ba tôi chở tôi qua chợ xem chiếu phim ngoài trời. Vở “Nghêu Sò Ốc Hến”, trong khi tôi xem phim thì ổng đi sang nhà mấy bà cô tôi nói chuyện. Và thế là quên mất tôi đang chờ ngoài kia. Khi xem hết phim, lọ mọ về tới nhà các cô thì nhà đã đóng cửa. Tôi vội vàng lội bộ đi về, băng qua cầu Duy Tân, Xuôi về Nguyễn Thái Học rồi đâm ra Gia Long để đi về. Qua Ngã tư Xã Bổn là biết gần đến nhà, tới Lý Thường Kiệt thì không dám ghé vào – vì đường đó không có đèn đường, mà đầu đường lại ngay khu vườn dừa của Bác Bảy Mậu nữa, nên càng sợ. Tôi băng xuống đến đầu Tòa Hành Chính là đụng đường Nguyễn Tri Phương. Lúc đó mới dám khóc tức tưởi đi về nhà. Tính ra tôi lội bộ cũng gần 3 km trong đêm đó. Cả nhà khen “Trí nhớ tốt” – Tuổi Kiki mà!!!

Nhà cũ

Ngôi nhà cũ của tôi ở trong một con hẻm - hẻm A - của đường Nguyễn Tri Phương, ăn thông sang đường Lý Thưòng Kiệt. Chẳng hiểu tại sau trước 1975 nhà tôi rất ít mở cửa trước, tất cả việc đi lại thường được đi bằng cửa hông và cửa sau. Do vậy ban đêm đi ra tới cửa để đi chơi hoặc là đi chơi về thì vào đến trong nhà là một nỗi sợ: sợ ma. Nhà tôi có một rẻo vườn ở bên hông, má tôi trồng đủ thứ: đầu nhà cói cây mận hồng đào ngọt thiệt ngọt, kế đến má trồng 1 cây vú sữa, đến một bãi mía nho nhỏ, cây mãng cầu xiêm, cây ổi xá lỵ có 2 loại trái, rồi đến cây xoài, cây chùm ruột, giữa nhà thì có cây mận xanh, trái ngọt ngọt chua chua mọc thành từng chùm lớn trĩu cả cây, sau bếp thì trồng cây mận trắng có mùi hăng hăng như mùi kiến đen. Cây cối nhiều vậy nên ban đêm nó trở nên âm u là lạ, cộng thêm mấy bà chì chuyên môn chỉ lên ánh đèn hắt vào các tàu lá dừa bên nhà Bác Bảy Mậu mà nhát là ma đánh đu trên đó, làm thằng em út sợ chết khiếp, chẳng dám đi theo mấy bà đi chơi.
Năm 1978 tình hình biên giới Tây Nam căng thẳng, nhà phải đào hầm trú, thế là toi đi bãi mía. Đào một cái hầm nhưng chẳng để làm gì vì nước ngập đến tận miệng hầm. Năm đó chị Ba vừa sanh thằng Thạch, chị Hai phát bệnh nặng, cả nhà lại gom về đầy đủ như trước khi hai chị lấy chồng. Năm đó lụt lớn lắm, nước từ sông tràn về, ngập cả nhà phải lót ván mà đi trong nhà. Nhớ nhất bầy cá lòng tong theo mùi cám của má múc cho heo ăn rơi vãi, nửa đêm lẻn qua ngạch cửa vào nhà, sáng mình bì bõm lấy rổ đi chụp cá, được một chảo cá lòng tong kho.

Sau trận lụt đó cửa hông bị mục, hư nặng nên không mở ra mở vô dễ dàng nữa, từ đó nhà mới mở cửa chính cho đi và cửa hông bị bít lại. Anh Tư không biết đi đâu lượm về cây mai chiếu thủy con và trồng ở chổ miệng hầm vừa lấp, nhà lại có thêm 1 cây mới.

Đến năm 1979, do nhà ở sau lưng của UBND tỉnh nên bị giải tỏa, gia đình dọn về ở nhà Nội. Gọi là giải tỏa nhưng sau đó lại cấp cho gia đình của các ông nọ bà kia ở, mỗi lần về thăm lại thấy đau làm sao. Cho đến bây giờ thì thực sự nó đã bị giải tỏa, mình về lại thì cũng không định vị được nền xưa ở chổ nào. Nhớ lắm ngôi nhà tuổi ấu thơ số 6/2 Hẻm A đường Nguyễn Tri Phương.


Con tắc kè

Ở trong nhà cũ của tôi có một con tắc kè. Không biết nó sống trong đó từ lúc nào nhưng khi tôi lớn lên thì nó đã nghiễm nhiên ở đó rồi. Con tắc kè mình màu xanh nhạt như màu vôi, lốm đốm đỏ đỏ xanh xanh, đầu thì to bè, ngón chân to bám vào vách, lè lưỡi bắt muỗi hàng đêm, nhìn phát khiếp. Thỉnh thoảng hắn lại thò đầu ra từ phía sau tivi, dương mắt ngó cả nhà và kêu "Tắc kè... tắc kè". Ba tôi nói nó đang đếm coi cả nhà có đủ mặt hay chưa - "đang điểm danh", tôi thì vui vẻ nhại lại "Chết nè... chết nè...".
Đến 30/04/1975 con tắc kè bị người ta đập chết ngay trong nhà tôi và bị đem đi ngâm rượu không thương tiếc. Tôi ngơ ngẩn nhìn và từ đó trong nhà như mất đi một người thân. Sau này tôi cố mọi cách nhưng không thể nào nuôi được con tắc kè nào trong nhà được nữa, chỉ thi thoảng nghe đâu đó tiếng của nó đếm mưa, đếm nắng ở một góc vườn nào đó và chẳng bao giờ nghe lại tiếng đếm người của nó như năm xưa: "Một nè ... Hai nè..."


Con Minô

Ở nhà cũ có nuôi một con chó, hình như còn lớn tuổi hơn cả mình. Tên của nó là Minô - nó là chó nhưng suốt ngày chạy ra bãi cỏ chới với lũ bò - chị Hai tôi nói nó là "chó chăn bò". Do vậy mình nó toàn là ve - con nào con nấy to bằng đầu ngón tay, bám quanh tai, vòng quanh mí mắt. Má tôi bảo "nhà này sang, chó mà còn đeo kim cương đầy người".

Là chó nhưng nó cũng kén ăn như quỷ, tôi nhớ là nó không ăn tép, không ăn thịt ếch, thịt chuột, không ăn lươn... Những khi nhà ăn những món đó thì má lại làm thêm một chảo nước mắm kho quẹt với tóp mỡ trộn riêng cho nó ăn. Cả nhà nói nó là con chó đi tu.

Mấy chị của tôi sợ nó phát khiếp vì chuyên môn đi theo mấy chị vào trường học. Nó vào đến sân trường là mấy chị chạy trốn, nhưng nó cứ bám theo và lựa ngay cửa lớp của mấy chị mà ngồi nhìn vào. Mấy chị tôi mắc cở muốn chết với con chó quỷ kia.
Nó còn thường theo cả nhà qua rạp Thanh Liêm con phim, nằm lăn dưới chân chúng tôi và thường chán chê bỏ về nhà trước. Lần nào cũng vậy lông nó dính đầy chewingum, làm mấy chị tôi phải lấy xăng è cổ ra rửa cho nó.
Nó sống với chúng tôi đến 1975 thì nghe hù dọa nên ba tôi đem cho nó đi. Chiều hôm ấy chị Hai lén dẫn tôi và nó ra công viên Nguyễn Du chơi cả buổi chiều. Tôi thì vô tư hỏi "Con Minô qua nhà mới ở hả chị Hai, nó có nhớ mình không chị Hai?" trong khi chị Hai lặng lẽ bắt ve cho nó, cẩn thận từng chút một cho đến tối sẫm Ba tôi ra gọi thì chúng tôi mới quay về nhà. Và từ đó Minô của tôi biến mất.

Trường Bồ Đề (trường B Mỹ Bình - Cấp 2 Mỹ Bình)
Ngôi trường thứ ba tôi đi học là trường Bồ Đề. Trong sân trường có một cây bồ đề thật to lá rụng xuống sân, bay xuống đầm nước ở sau trường, mục rữa ở đó và còn lại bộ xương lá - trở thành nguồn sưu tập của chúng tôi: với bộ xương lá đó chúng tôi tha hồ lấy mực nhuộm xanh, nhuộm tím, nhuộm đỏ, ép vào tập đẹp mê hồn.

Nhà thờ mới

Nhà thmới Long xuyên – được gọi như vậy để phân biệt với nhà thờ cũ trong khu nhà của Nội tôi (mãi đến năm 1982 tôi mới biết có ngôi nhà thờ cũ và đến năm 2000 tôi mới thấy mặt mũi ngôi nhà thời cũ đó)

Nhà thờ có gác chuông mang hình hai cánh tay chấp lại nâng tháng giá kên trời, gác chuông được tôi cho là đẹp nhất vùng đồng bằng này. Nhà thờ hình như xây cùng năm tôi sinh ra. Bức tượng Nữ Vương Hòa Bình thì tôi nhớ là được dựng lên vào năm 1973. Năm đó anh Tư chở tôi đi xem dựng tượng, nhưng náo có xem được gì đâu. Hồi trước năm 1978-1980 thì vườn hoa trước mặt nhà thờ mà thấy trong hình bây giờ vẫn còn là một góc cũa bến xen khách Long Xuyên, nằm dài suốt con đường Nguyễn Huệ, vừa nhếch nhác, vừa đông đúc. Do vậy buổi dựng tượng thì tôi chỉ còn nhớ đến cảnh hàng đàn người chen chúc nhau, xô đẩy nhau và thế là tôi nằn nặc đòi về.

Đến năm 4 tuổi thì mới được ba mẹ cho phép đi đến nhà thờ xem hang đá với các chị. Lần đầu vào nhà thờ - mà lại vào dịp Giáng sinh nữa làm tôi ngây ngẩn.

Sau 1975 thì tôi không có thú đi xem hang đá. Phần thì các chị thi đậu đại học, phần theo chồng tản đi hết. Ở nhà còn mỗi ông anh Tư thì ổng đi “hoạt động đoàn thể”, nào thấy mặt mũi ổng ở đâu, còn bà chị Sáu thì chúi mũi học, thế là tôi không có dịp đi nhà thờ. Mãi sau này đến năm 1982 khi học chung với Nhã tôi mới bị “dụ khị” vào nhà thờ xem lễ - mà mãi đến giờ này lời cầu kinh trong ngày lễ Noel vẫn vang vang trong tôi – như một bài "Thánh ca buồn”.

Xa lắm - xa lắm rồi tuổi thơ tôi.....