Tôi sinh ra và lớn lên tại tỉnh lỵ của An Giang: Thị xã Long Xuyên. Một đô thị trong ký ức của tôi nó "be bé, xinh xinh", một vùng đất đầy ắp những kỷ niệm. Tôi muốn gởi lại trên entry này một số hoài niệm của một thời thơ ấu, mà tôi sợ rằng tôi sẽ quên đi theo năm tháng vì gần đây tự phác giác ra mình cũng bắt đầu lú lẫn nhiều.
Cầu Hoàng Diệu - Cầu Duy TânGóc LX chụp từ Mỹ Bình nhìn qua, cây cầu gần là Duy Tân, phía xa là cầu Hoàng Diệu
Long Xuyên trong ký ức tôi có 2 cây cầu để nhớ: Cầu Hoàng Diệu và cầu Duy Tân. Tôi vẫn còn nhớ câu trêu đùa con gái Long Xuyên là:
"Cầu nào cao bằng cầu Hoàng Diệu
Gái nào điệu bằng gái Long Xuyên"
Hồi còn nhỏ, đạp xe lên dốc cầu Hoàng Diệu là mệt bở hơi tai. Bây giờ đi tứ xứ về nhìn lại thì thấy nó cũng chẳng cao gì mấy mà sao vẫn cứ thấy như mình đang đạp xe lên dốc - con dốc của ký ức.
Tôi thì tôi nhớ cầu Hoàng Diệu nhiều hơn vì thường đi học, đi chơi đều qua con đường này. Kể cả đi vào nhà Nội hay vào thăm mộ những ngày Thanh Minh đều phải đi qua đây.
Cầu Duy Tân thì tôi ít đi hơn vì nó không thuận đường. Vả lại hồi 1978 thì dân vùng Tân Châu, Châu Đốc chạy giặc về sống túm tụm quanh bến đò ngay chân cầu, họ nướng tung-lò-mò trên lề cầu, bày bàn lụa Tân Châu .... nên cây cầu càng chật hẹp và xô bồ xô bộn. Chỉ có sau này khi đi chơi với lũ bạn thì tôi mới hay đi qua cầu này vì nó dẫn về hồ Nguyễn Du.
Cầu Duy Tân với tuổi ấu thơ thì chỉ có mỗi một kỷ niệm là lúc 1975, tôi lội bộ trong đêm một mình từ đường Nguyễn Trãi về đến Nguyễn Tri Phương. Hôm ấy Ba tôi chở tôi qua chợ xem chiếu phim ngoài trời. Vở “Nghêu Sò Ốc Hến”, trong khi tôi xem phim thì ổng đi sang nhà mấy bà cô tôi nói chuyện. Và thế là quên mất tôi đang chờ ngoài kia. Khi xem hết phim, lọ mọ về tới nhà các cô thì nhà đã đóng cửa. Tôi vội vàng lội bộ đi về, băng qua cầu Duy Tân, Xuôi về Nguyễn Thái Học rồi đâm ra Gia Long để đi về. Qua Ngã tư Xã Bổn là biết gần đến nhà, tới Lý Thường Kiệt thì không dám ghé vào – vì đường đó không có đèn đường, mà đầu đường lại ngay khu vườn dừa của Bác Bảy Mậu nữa, nên càng sợ. Tôi băng xuống đến đầu Tòa Hành Chính là đụng đường Nguyễn Tri Phương. Lúc đó mới dám khóc tức tưởi đi về nhà. Tính ra tôi lội bộ cũng gần 3 km trong đêm đó. Cả nhà khen “Trí nhớ tốt” – Tuổi Kiki mà!!!
Nhà cũ
Ngôi nhà cũ của tôi ở trong một con hẻm - hẻm A - của đường Nguyễn Tri Phương, ăn thông sang đường Lý Thưòng Kiệt. Chẳng hiểu tại sau trước 1975 nhà tôi rất ít mở cửa trước, tất cả việc đi lại thường được đi bằng cửa hông và cửa sau. Do vậy ban đêm đi ra tới cửa để đi chơi hoặc là đi chơi về thì vào đến trong nhà là một nỗi sợ: sợ ma. Nhà tôi có một rẻo vườn ở bên hông, má tôi trồng đủ thứ: đầu nhà cói cây mận hồng đào ngọt thiệt ngọt, kế đến má trồng 1 cây vú sữa, đến một bãi mía nho nhỏ, cây mãng cầu xiêm, cây ổi xá lỵ có 2 loại trái, rồi đến cây xoài, cây chùm ruột, giữa nhà thì có cây mận xanh, trái ngọt ngọt chua chua mọc thành từng chùm lớn trĩu cả cây, sau bếp thì trồng cây mận trắng có mùi hăng hăng như mùi kiến đen. Cây cối nhiều vậy nên ban đêm nó trở nên âm u là lạ, cộng thêm mấy bà chì chuyên môn chỉ lên ánh đèn hắt vào các tàu lá dừa bên nhà Bác Bảy Mậu mà nhát là ma đánh đu trên đó, làm thằng em út sợ chết khiếp, chẳng dám đi theo mấy bà đi chơi.
Năm 1978 tình hình biên giới Tây Nam căng thẳng, nhà phải đào hầm trú, thế là toi đi bãi mía. Đào một cái hầm nhưng chẳng để làm gì vì nước ngập đến tận miệng hầm. Năm đó chị Ba vừa sanh thằng Thạch, chị Hai phát bệnh nặng, cả nhà lại gom về đầy đủ như trước khi hai chị lấy chồng. Năm đó lụt lớn lắm, nước từ sông tràn về, ngập cả nhà phải lót ván mà đi trong nhà. Nhớ nhất bầy cá lòng tong theo mùi cám của má múc cho heo ăn rơi vãi, nửa đêm lẻn qua ngạch cửa vào nhà, sáng mình bì bõm lấy rổ đi chụp cá, được một chảo cá lòng tong kho.
Sau trận lụt đó cửa hông bị mục, hư nặng nên không mở ra mở vô dễ dàng nữa, từ đó nhà mới mở cửa chính cho đi và cửa hông bị bít lại. Anh Tư không biết đi đâu lượm về cây mai chiếu thủy con và trồng ở chổ miệng hầm vừa lấp, nhà lại có thêm 1 cây mới.
Đến năm 1979, do nhà ở sau lưng của UBND tỉnh nên bị giải tỏa, gia đình dọn về ở nhà Nội. Gọi là giải tỏa nhưng sau đó lại cấp cho gia đình của các ông nọ bà kia ở, mỗi lần về thăm lại thấy đau làm sao. Cho đến bây giờ thì thực sự nó đã bị giải tỏa, mình về lại thì cũng không định vị được nền xưa ở chổ nào. Nhớ lắm ngôi nhà tuổi ấu thơ số 6/2 Hẻm A đường Nguyễn Tri Phương.
Con tắc kè

Ở trong nhà cũ của tôi có một con tắc kè. Không biết nó sống trong đó từ lúc nào nhưng khi tôi lớn lên thì nó đã nghiễm nhiên ở đó rồi. Con tắc kè mình màu xanh nhạt như màu vôi, lốm đốm đỏ đỏ xanh xanh, đầu thì to bè, ngón chân to bám vào vách, lè lưỡi bắt muỗi hàng đêm, nhìn phát khiếp. Thỉnh thoảng hắn lại thò đầu ra từ phía sau tivi, dương mắt ngó cả nhà và kêu "Tắc kè... tắc kè". Ba tôi nói nó đang đếm coi cả nhà có đủ mặt hay chưa - "đang điểm danh", tôi thì vui vẻ nhại lại "Chết nè... chết nè...".
Đến 30/04/1975 con tắc kè bị người ta đập chết ngay trong nhà tôi và bị đem đi ngâm rượu không thương tiếc. Tôi ngơ ngẩn nhìn và từ đó trong nhà như mất đi một người thân. Sau này tôi cố mọi cách nhưng không thể nào nuôi được con tắc kè nào trong nhà được nữa, chỉ thi thoảng nghe đâu đó tiếng của nó đếm mưa, đếm nắng ở một góc vườn nào đó và chẳng bao giờ nghe lại tiếng đếm người của nó như năm xưa: "Một nè ... Hai nè..."
Con Minô
Ở nhà cũ có nuôi một con chó, hình như còn lớn tuổi hơn cả mình. Tên của nó là Minô - nó là chó nhưng suốt ngày chạy ra bãi cỏ chới với lũ bò - chị Hai tôi nói nó là "chó chăn bò". Do vậy mình nó toàn là ve - con nào con nấy to bằng đầu ngón tay, bám quanh tai, vòng quanh mí mắt. Má tôi bảo "nhà này sang, chó mà còn đeo kim cương đầy người".
Là chó nhưng nó cũng kén ăn như quỷ, tôi nhớ là nó không ăn tép, không ăn thịt ếch, thịt chuột, không ăn lươn... Những khi nhà ăn những món đó thì má lại làm thêm một chảo nước mắm kho quẹt với tóp mỡ trộn riêng cho nó ăn. Cả nhà nói nó là con chó đi tu.
Mấy chị của tôi sợ nó phát khiếp vì chuyên môn đi theo mấy chị vào trường học. Nó vào đến sân trường là mấy chị chạy trốn, nhưng nó cứ bám theo và lựa ngay cửa lớp của mấy chị mà ngồi nhìn vào. Mấy chị tôi mắc cở muốn chết với con chó quỷ kia.
Nó còn thường theo cả nhà qua rạp Thanh Liêm con phim, nằm lăn dưới chân chúng tôi và thường chán chê bỏ về nhà trước. Lần nào cũng vậy lông nó dính đầy chewingum, làm mấy chị tôi phải lấy xăng è cổ ra rửa cho nó.
Nó sống với chúng tôi đến 1975 thì nghe hù dọa nên ba tôi đem cho nó đi. Chiều hôm ấy chị Hai lén dẫn tôi và nó ra công viên Nguyễn Du chơi cả buổi chiều. Tôi thì vô tư hỏi "Con Minô qua nhà mới ở hả chị Hai, nó có nhớ mình không chị Hai?" trong khi chị Hai lặng lẽ bắt ve cho nó, cẩn thận từng chút một cho đến tối sẫm Ba tôi ra gọi thì chúng tôi mới quay về nhà. Và từ đó Minô của tôi biến mất.
Trường Bồ Đề (trường B Mỹ Bình - Cấp 2 Mỹ Bình)
Ngôi trường thứ ba tôi đi học là trường Bồ Đề. Trong sân trường có một cây bồ đề thật to lá rụng xuống sân, bay xuống đầm nước ở sau trường, mục rữa ở đó và còn lại bộ xương lá - trở thành nguồn sưu tập của chúng tôi: với bộ xương lá đó chúng tôi tha hồ lấy mực nhuộm xanh, nhuộm tím, nhuộm đỏ, ép vào tập đẹp mê hồn.
Nhà thờ mới

Nhà thờ mới Long xuyên – được gọi như vậy để phân biệt với nhà thờ cũ trong khu nhà của Nội tôi (mãi đến năm 1982 tôi mới biết có ngôi nhà thờ cũ và đến năm 2000 tôi mới thấy mặt mũi ngôi nhà thời cũ đó)
Nhà thờ có gác chuông mang hình hai cánh tay chấp lại nâng tháng giá kên trời, gác chuông được tôi cho là đẹp nhất vùng đồng bằng này. Nhà thờ hình như xây cùng năm tôi sinh ra. Bức tượng Nữ Vương Hòa Bình thì tôi nhớ là được dựng lên vào năm 1973. Năm đó anh Tư chở tôi đi xem dựng tượng, nhưng náo có xem được gì đâu. Hồi trước năm 1978-1980 thì vườn hoa trước mặt nhà thờ mà thấy trong hình bây giờ vẫn còn là một góc cũa bến xen khách Long Xuyên, nằm dài suốt con đường Nguyễn Huệ, vừa nhếch nhác, vừa đông đúc. Do vậy buổi dựng tượng thì tôi chỉ còn nhớ đến cảnh hàng đàn người chen chúc nhau, xô đẩy nhau và thế là tôi nằn nặc đòi về.
Đến năm 4 tuổi thì mới được ba mẹ cho phép đi đến nhà thờ xem hang đá với các chị. Lần đầu vào nhà thờ - mà lại vào dịp Giáng sinh nữa làm tôi ngây ngẩn.
Sau 1975 thì tôi không có thú đi xem hang đá. Phần thì các chị thi đậu đại học, phần theo chồng tản đi hết. Ở nhà còn mỗi ông anh Tư thì ổng đi “hoạt động đoàn thể”, nào thấy mặt mũi ổng ở đâu, còn bà chị Sáu thì chúi mũi học, thế là tôi không có dịp đi nhà thờ. Mãi sau này đến năm 1982 khi học chung với Nhã tôi mới bị “dụ khị” vào nhà thờ xem lễ - mà mãi đến giờ này lời cầu kinh trong ngày lễ Noel vẫn vang vang trong tôi – như một bài "Thánh ca buồn”.
Xa lắm - xa lắm rồi tuổi thơ tôi.....